Thứ Hai, 20 tháng 7, 2026
TƯỞNG NHỚ NGƯỜI ANH VONG NIÊN. THIẾU TÁ LÊ PHI Ô
TƯỞNG NHỚ NGƯỜI ANH VONG NIÊN. THIẾU TÁ LÊ PHI Ô
CẢM NGHĨ VỀ NGƯỜI ANH VONG NIÊN – NHẠC SĨ BẢO TỐ
Hôm nay, khi hay tin người anh vong niên của chúng tôi – nhạc
sĩ Bảo Tố – vừa từ giã cõi đời tại San Jose, Hoa Kỳ, trong lòng tôi dâng lên một
niềm xúc động sâu xa, xen lẫn bùi ngùi và kính phục. Anh ra đi, để lại phía sau
không chỉ là những bản nhạc đấu tranh, mà còn là một đời người gắn liền với lý
tưởng quốc gia, với khí tiết của một người tù chính trị không bao giờ khuất phục.
Từ thuở còn học Trung học, tôi đã từng nghe danh nhạc sĩ Bảo
Tố. Khi ấy, cái tên Bảo Tố gợi lên hình ảnh một người làm nhạc mang tinh thần đấu
tranh, một tiếng nói không cúi đầu trước bạo quyền. Nhưng phải đến sau biến cố
30 tháng 4 năm 1975 – khi miền Nam sụp đổ bởi bạo lực của miền Bắc – tôi mới thật
sự biết anh, không phải trên sân khấu hay qua làn sóng phát thanh, mà trong
hoàn cảnh nghiệt ngã nhất: chung tù cải tạo.
Trong lao tù cộng sản, anh em chúng tôi sống chung dưới một
mái nhà giam. Tôi ở đội 7, anh ở đội 18, tuy khác đội nhưng cùng chung một
“láng” – nơi cư trú của tù nhân. Kỷ luật nhà tù vô cùng khắt khe. Mọi sinh hoạt
đều bị theo dõi, quan sát chặt chẽ, đặc biệt là về tư tưởng, văn hóa và âm nhạc.
Đối với bọn cai tù, những ca khúc của chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị gán cho cái
nhãn “nhạc phản động”. Nhưng đối với chúng tôi, đó là văn hóa, là ký ức, là
linh hồn của một miền tự do đã mất.
Sau một tuần lễ lao động ép xác, cực khổ và đói khát, những
người tù chính trị như chúng tôi thường âm thầm tụ lại thành từng nhóm nhỏ. Chỉ
là vài điếu thuốc chuyền tay, vài ngụm trà nhạt, nhưng chính trong những giây
phút tưởng chừng rất đỗi bình thường ấy, tiếng hát miền Nam lại cất lên. Không
cần đàn, không cần sân khấu, chỉ cần một giọng hát và một tấm lòng.
Và trong những lúc ấy, nhạc sĩ Bảo Tố không chỉ là người
hát, mà là người giữ lửa. Anh hát với sự điềm tĩnh nhưng cương quyết, ánh mắt
sáng lên niềm tin không lay chuyển. Anh hiểu rất rõ cái giá phải trả, bởi nếu bị
phát hiện, chúng tôi sẽ bị kiểm điểm, bị trừng phạt, thậm chí bị đưa vào nhà đá
– nơi giam cầm khắc nghiệt dành cho những người bị cho là “sai phạm”. Thế
nhưng, anh vẫn hát. Bởi với anh, im lặng trước sự xóa bỏ văn hóa còn đáng sợ
hơn mọi đòn roi.
Trong chốn lao tù, tôi thấy rõ nơi anh một con người có lý
tưởng quốc gia rõ rệt, không thỏa hiệp, không mơ hồ. Anh không cần những lời hô
hào lớn tiếng, chính thái độ sống và cách anh giữ gìn từng câu hát miền Nam đã
nói lên tất cả. Anh là nhạc sĩ đấu tranh, nhưng đồng thời cũng là một người bạn
tù nghĩa khí, một người anh tinh thần cho nhiều anh em cùng cảnh ngộ.
Tôi còn nhớ anh đi lao động ngoài nương rẩy anh lượm những mảnh
dán vụn và rồi ghép thành những nhạc cụ và lấy những sợi dây cước làm dây đàn tạo
ra đàn tự chế. Anh đàn cho anh em tù nào thích nhạc miền Nam hát. Trong nhóm ca
hát nhạc miền Nam của anh Bảo Tố có Tôi và anh Tốt (anh Tốt cũng là một sĩ quan
Cảnh Sát như tôi, nhưng anh tốt nghiệp trước tôi một khóa)là hai người trẻ nhất
đối với số tuổi của anh Bảo Tố và các anh khác trong nhóm văn nghệ tự phát
trong tù.
Nhóm lúc đầu ít người, sau có nhiều bạn tù than gia hơn. Cuối
tuần nào nhóm của chúng tôi cũng hát. Chúng tôi tự nguyện tổ chức người canh chừng
cán bộ, cứ hễ thấy cán bộ ngoài khung vào thì nhóm canh chừng báo động, khi
đang hát nhạc vàng miền nam thì chúng tôi đổi qua nhạc gọi là “ Cách Mạng” để
đánh lừa mấy tên cán bộ vào kiểm tra. Tuy nhiên có lúc chúng tôi cũng bị những
tên “ăng ten” ( những người làm ăng ten thường là những người cùng chung số phận
tù , nhưng đầu óc không được chuẩn, tin lời dỗ ngọt của cán bộ trại là học tập
tốt được về sớm nên tự nguyện làm ăng ten) báo cáo ngầm với cán bộ trại, từng
người một chúng tôi cũng bị kêu lên khung viết kiểm điểm và đôi khi chịu hình
phạt.
Trong nhóm của chúng tôi, gồm có Nhạc sĩ Bảo Tố đầu đàn, anh
Yến Hiến Binh , Anh Duy Trác, Anh Nghi cổ nhạc về ca sĩ thường trực có tôi và
anh Tốt Cảnh Sát. Phần lớn chúng tôi hát nhạc của Trần Thiện Thanh, Trầm Tử
Thiêng , Trúc Phương, Lam Phương… Hầu hết là nhạc Lính và Quê hương.
Thời gian lâu nhóm vẫn phục vụ cho bạn tù trong láng, các bạn
tù có gia đình thăm nuôi đem hiến cho nhóm một số thức ăn bánh kẹo, thế là
phong trào ca hát hàng tuần trong láng lại càng phát triển. Các người tù có tư
tưởng “ Ăng ten” cũng bớt dần và cũng nằm im để thưởng thức.
Tôi nhớ khoảng năm 1979, dịp Tết đến, Anh Bảo Tố tổ chức một
đên hát khuya hơn để đón giao thừa, anh nói với các bạn tù trong láng là “ Đêm
nhạc hôm nay, nhóm chúng tôi mời hai ca sĩ từ Saigon đến tham dự và trình diễn
cho quí bạn xem. Đây ca sĩ Anh Huy và Đình Tốt. Thật ra Anh Tốt và Tôi tham gia
trong nhóm” ca nhạc liều mạng “ tự phát này lâu ngày thành quen và trở nên điêu
luyện giọng nên được hầu quý anh em bạn tù yêu thích nên anh Bảo Tố giới thiệu
cho vui thôi, chứ ca sĩ Saigon nào đâu!. Sự giới thiệu này của nhạc sĩ bảo Tổ
cũng làm cho chúng tôi suy nghĩ ra rằng chắc anh cũng nhớ lại những dĩ vãng của
anh khi còn là nhạc sĩ trong các vũ trường hay phòng trà ở Saigon xưa. Nhớ lắm,
nhớ lắm nên thốt lên thôi để lòng bớt trăn trở!
Có một kỷ niệm cũng khó quên là nhân dịp Tết ở trong trại tù
Hàm Tân Thuận Hải,Anh Bảo Tố lấy đàn ghi ta đàn cho ca sĩ Luật sư Duy Trác hát
bài “ Thề Không Phản Bội Quê Hương” và bài “ Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về” do
Duy Trác sáng tác trong trại tù.
Hoàn cảnh sáng tác bài hát này là.
Một hôm cùng anh em tù cuốc đất bên đường vào trại tù, thấy
mấy bà đi thăm chồng đi trên đường, người tù Duy Trác hỏi:
– Sài Gòn có gì vui không, mấy chị?
Một bà trả lời:
– Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.
Cảm khái vì câu nói, Duy Trác làm bản nhạc “Sài Gòn chỉ vui
khi các anh về “. Năm 1982 Duy Trác gửi bản nhạc sang Pháp, ký tên tác giả là
Ve Sầu. Bọn Công An Phản Gián dò biết, chúng bắt Duy Trác, chúng kết tôi bản nhạc
có ý nói “Sài Gòn chỉ vui khi những chiến sĩ Phục Quốc trở về.”. Lời bài hát
như sau: ( Lời bài hát lúc đó không có tiếng Anh, chỉ có truyền miệng và viết bằng
tay chuyền chui với nhau .Sau này ra hải ngoại mới có dịch sang tiếng Anh)
“ Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ
I met you quite by surprise
Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố
A pair of innocent eyes from the city
Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời
The dungeon dark speaks to life
Sàigòn có vui? Sài gòn có vui?
Is Saigon happy? Is Saigon happy?
Em ngước nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ
You looked up at me, bent your head, and said softly
"Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ
"What's left of the dreamy city
Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ
The afflicted city continues to remind us
Sài gòn chỉ vui khi các anh về."
Saigon will only be happy when you brothers are back."
Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất
I will go back to ask back the homeland that's been lost
Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt
I will go back with you wiping dry the tears
Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui
I will invite you to stroll on joyful streets
Những con đường tình, trường xưa công viên tràn nắng mới
Streets of love, the school of long ago, parks all
overflowing with new sunshine
Tôi sẽ về quỳ bên thánh giá bao dung
I will go back to kneel before the generous cross
Tôi sẽ nguyện cầu cho tình yêu và cuộc sống
I will pray for love and for life
Đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê
Offer tears and laughter to life in an impassioned song
Cám ơn Sài gòn tôi sẽ trở về
Thank you Saigon I will come back
Sài Gòn mến yêu!
Beloved Saigon!
Người tình dấu yêu!
Dearest lover!
Tôi sẽ trở về!
Và bài hát này đã được lan truyền miệng trong hầu hết các trại
giam Và Anh Huy (xưa) là Duy Văn bây giờ đã cũng từng hát nhạc phẩm này trong
nhóm “ca nhạc liều mạng “của anh Bảo Tố và Duy Trác.
Khi Anh Duy Trác và nhóm ca nhạc chúng tôi hát thì các bạn
tù kéo đến cùng vỗ tay hưởng ứng hát theo rất vui. Cán bộ trại tù tới giải tán
và mấy ngày sau Bảo Tố và Duy Trác bị nhốt riêng vì tội dám hát “nhạc phản động”.
Chuyện nhóm “ca nhạc vàng liều mạng” trong tù sau đó đã phôi
pha lần vì các thành viên bị “ biên chế” chuyển qua nhiều trại khác nên nhóm
coi như là giải tán.
Từ sau năm 1980, khi tôi còn ở trong tù hay tin anh Bảo Tố
đã được tha về và anh đã tìm đường vượt biên thành công tới bến bờ tự do. Anh
Đình Tốt và Yến Hiến Binh đến nay tôi không biết tin tức chỉ có anh Duy Trác
nghe đâu đã đến được Hoa Kỳ hiện đang ở Tiểu Bang Texas.
Thời gian trôi qua. Năm 1994 tôi qua Mỹ theo diện H.O, đến
San Jose tôi gặp lại Nhạc sĩ Bảo Tố, anh làm Đài Phát Thanh, tôi có tiếp xúc và
học hỏi anh về cách làm truyền thông. Sau khi tôi học xong lớp báo chí Press
and News ở San Francisco College và nhờ kiến thức học nơi anh Bảo Tố tôi đã cộng
tác với Đài Phát Thanh của Chị Hoàng Mộng Thu ở San Francisco.
Khi tôi chuyển xuống sống ở thành phố San Jose, tôi làm báo
chí, tôi gặp anh thường xuyên trong sinh hoạt các hội đoàn cũng như trên lãnh vực
truyền thông.
Tôi và anh Bảo Tố cũng nhiều lần làm giám khảo chấm thi tuyến
lựa ca sĩ ở vùng Bắc Cali . Các thí sinh qua các kỳ thi do nhạc sĩ Bảo Tố và
tôi (Duy văn) chấm đậu. Nay cũng có nhiều em đã thành danh trên con đường sinh
hoạt văn nghệ.
Có lần anh và tôi cùng gặp lại ca sĩ Kim Loan, ca sĩ Lan Ngọc
, ca sĩ Kim Anh … và chúng tôi cũng đã ngồi ghế giám khảo để cùng nhau tuyển
lưa cho cộng đồng một lớp người trẻ ca hát để bảo tồn nền văn hóa Việt nơi xứ
người.
Được biết Nhạc sĩ Bảo Tố thuộc dòng hoàng tộc Nguyễn Phước của
Triều Nguyễn, sinh năm 1944 tại quận Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Tự học ghi ta
năm 15 tuổi và trở thành nhạc sĩ chơi nhạc cụ này cùng Mandoline trong ban nhạc
Tài Năng Mới của nhạc sĩ Lê Thương, ban nhạc Văn Phụng, ban nhạc Nguyễn Hiền ở
đài phát thanh Sài Gòn và đài truyền hình Sài Gòn, ban nhạc Châu Kỳ, ban nhạc
Trung Tâm Học Liệu của nhạc sĩ Hùng Lân dành cho các em thiếu nhi, chung với nhạc
sĩ Trầm Tử Thiêng. Sáng tác đầu tay của nhạc sĩ Bảo Tố viết chung với Xuân Điềm
vào năm 1966 là Mùa Xuân Tuổi Mộng do ca sĩ Phương Dung thu băng trong hãng đĩa
Continental của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông Ngoài nhạc phẩm Mùa Xuân Tuổi Mộng và
Trọn Đời Thương Nhau ông còn nhiều nhạc phẩm nổi tiếng khác như: Tình Gian Đối,
Sau lần Yêu, Tình Ta Như Lúa Đơm Bông, Mảnh Hồn Hoang,Em Chết Theo Ngày Vu Quy.
Đặc biệt các nhạc phẩm tranh đấu ông viết trong thời kỳ lưu vong: Lớp Ba Trường
Làng, Tôi Đã Thấy Quỷ, và Cô Giáo Dạy Trẻ là những nhạc phẩm nội dung chế giễu
sự dốt nát của nhóm người vô thần lãnh đạo đất nước.
Ngoài ra nhạc sĩ Bảo Tố cùng với ca nhạc sĩ Triệu Phổ viết
nhạc Phật giáo. Anh cũng làm thơ nói về Đạo ,nói về thế sự và phát hành bằng
nhiều tập lấy tên là Việt Nam Hiển Thơ Mầu Nhiệm ghi tên tác giả là Diệu Như
Tăng Dũng và Diệu Như Tăng Tố ( Bảo Tố ).
Cuộc đời thật vô thường. Tôi và anh Văn Hoàng Tuấn Tổng Thư
Ký Khu Hội Tù Nhân Chính Trị Tây Bắc Hoa Kỳ vừa gặp anh còn quá vui vẻ trong
hành lang nhả hàng Rong Biển San Jose. Tôi cùng hút với anh một điếu thuốc anh
kể chuyện trong tù về ca hát cho anh Văn Hoàng Tuấn nghe, nhưng theo quan sát của
tôi thì anh hơi yếu bởi anh phải đi gậy.
Bẵng một thời gian ( chỉ khoảng một tuần) chúng tôi đang điều
hành cho ngày Tân Niên Khu Hội,thì nghe tin anh vào bệnh viện Basscom. Dự định
vào thăm anh, chưa kịp thì hay tin anh thất lộc. Tôi lòng bồi hồi, nhớ về anh.
Một người anh mà tôi quý mến.
Hôm nay, anh đã đi xa. Nhà tù, nhà đá, những đêm thì thầm ca
hát trong bóng tối… tất cả chỉ còn là ký ức. Nhưng với tôi và với những người từng
sống, từng chịu đựng và từng hát cùng anh trong lao tù cộng sản, nhạc sĩ Bảo Tố
chưa bao giờ mất. Anh vẫn còn đó, trong từng câu nhạc, từng kỷ niệm, từng lý tưởng
quốc gia mà anh đã sống và giữ đến hơi thở cuối cùng.
Xin thắp một nén hương lòng tiễn đưa người anh vong niên.
Cầu mong anh an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.
Và xin cảm ơn anh – một đời không khuất phục.
Duy Văn
Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026
35 NĂM THI VĂN ĐÀN LẠC VIỆT (1991–2026)
35 NĂM THI VĂN ĐÀN LẠC VIỆT (1991–2026)
MỘT CHẶNG ĐƯỜNG GÌN GIỮ HỒN VIỆT NƠI HẢI NGOẠI
Ba mươi lăm năm nhìn lại, hành trình của Thi Văn Đàn Lạc Việt không chỉ là lịch sử của một hội đoàn văn chương, mà còn là câu chuyện của một cộng đồng người Việt xa xứ kiên trì gìn giữ tiếng Việt, văn hóa và ký ức dân tộc giữa dòng chảy hội nhập và biến động của thời gian.
1.Khởi nguyên 1991 – Nền móng của một mái nhà văn học
Vào năm 1991, trong bối cảnh cộng đồng người Việt hải ngoại từng bước ổn định đời sống sau những năm đầu định cư,Từ trái qua phải: Thi sĩ Chinh Nguyên, Nhà Văn, Nhà Báo Duy Văn Hà Đình Huy, Nhà Thơ Võ Đông GIang, Thi sĩ Đông Anh, Thi lão Hà Thương Nhân,Nhà Biên Khảo Đặng Cao Ruyên, Nhà Thơ Song Linh và nhà Thơ Trường Giang.
Mục tiêu ban đầu không chỉ là sáng tác và phổ biến văn chương, mà còn là bảo tồn bản sắc Việt, nuôi dưỡng đời sống tinh thần và kết nối các thế hệ qua ngôn ngữ, thi ca và ký ức lịch sử.
Đặt nền móng cho giai đoạn hình thành là những bậc thi văn tiền bối:
Hà Thương Nhân, Hoàng Anh Tuấn, Dương Huệ Anh, Thượng Quân, Chu Toàn Chung.
Các vị đã góp phần định hình đường hướng hoạt động, xây dựng uy tín và tạo dựng không gian sinh hoạt văn chương mang tính nhân bản, dân tộc và khai phóng.
Song hành với đó là vai trò quan trọng của Ban Cố Vấn, gồm những trí thức và nghệ sĩ có uy tín trong đời sống văn hóa hải ngoại:
Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, nhà văn Vũ Văn Lộc, Bình luận gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Ngô Đình Chương và nữ sĩ Trùng Quang.
Sự hiện diện của Ban Cố Vấn đã góp phần tạo nên chiều sâu tư tưởng, tính học thuật và sự cân bằng giữa sáng tác, phê bình và định hướng văn hóa.
2.Thăng trầm và tiếp nối – Tinh thần không gián đoạn
Như nhiều sinh hoạt cộng đồng khác, Thi Văn Đàn Lạc Việt cũng trải qua những giai đoạn trầm lắng trước những thay đổi về hoàn cảnh, thế hệ và môi trường sinh hoạt văn hóa. Tuy nhiên, tinh thần Lạc Việt — tinh thần gắn bó với cội nguồn và chữ nghĩa — chưa bao giờ bị gián đoạn, mà chỉ lắng lại để chuẩn bị cho một chu kỳ tiếp nối.
3.Phục hoạt 2016 – Sức sống của thế hệ kế thừa
Năm 2016 đánh dấu giai đoạn phục hoạt của Thi Văn Đàn Lạc Việt, mở ra một thời kỳ mới với sự tham gia tích cực của các văn thi sĩ và cây bút đương đại.
Tiêu biểu trong giai đoạn này là các tên tuổi:
Đông Anh, Ngọc An, Duy Văn Hà Đình Huy, Song Linh, Võ Thạnh Văn, Du Sơn Lãng Tử, Nguyễn Đông Giang, Chinh Nguyên…
Nhà Báo Duy Văn Hà Đình Huy và Cố Thi sĩ Chinh Nguyên
Thế hệ kế thừa không chỉ tiếp nối di sản của các bậc tiền bối, mà còn mang đến hơi thở mới của thời đại, phản ánh tâm tư của cộng đồng trong bối cảnh hội nhập, đa văn hóa và chuyển đổi truyền thông. Từ đó, Thi Văn Đàn Lạc Việt tiếp tục giữ vai trò là diễn đàn cho sáng tác, đối thoại văn học và kết nối cộng đồng qua con chữ và nghệ thuật.
4.Vai trò trong đời sống cộng đồng hải ngoại
Trong suốt 35 năm, Thi Văn Đàn Lạc Việt đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một hội văn chương thuần túy để trở thành:
- Không gian lưu giữ ký ức tập thể của người Việt xa quê,
- Nhịp cầu liên thế hệ giữa các bậc tiền bối và lớp trẻ,
- Diễn đàn văn hóa phản ánh đời sống tinh thần, xã hội và lịch sử cộng đồng.
Các sinh hoạt, tác phẩm và đóng góp của Thi Văn Đàn đã góp phần khẳng định rằng văn chương không chỉ là nghệ thuật, mà còn là phương tiện gìn giữ căn tính, nuôi dưỡng lòng nhân ái và củng cố sự gắn kết cộng đồng.
5.Hướng tới tương lai
Nhà báo Duy Văn Hà Đình Huy với Nhạc sĩ Chí Trung trong chương trình 15 phục hoạt Thi Văn Đàn Lạc Việt.
Kỷ niệm 35 năm thành lập là dịp để tri ân những người đã đặt nền móng, trân trọng những người đang đồng hành và khích lệ thế hệ tiếp nối.
Trong bối cảnh đời sống văn hóa hải ngoại ngày càng đa dạng và số hóa mạnh mẽ, Thi Văn Đàn Lạc Việt đứng trước cơ hội mở rộng không gian sinh hoạt, tiếp cận thế hệ trẻ và lan tỏa giá trị văn học Việt qua nhiều hình thức mới.
Ba mươi lăm năm là một chặng đường đáng trân quý. Nhưng hơn thế, đó là một cam kết lâu dài với tiếng Việt, với văn hóa dân tộc và với tinh thần nhân bản của con người Việt Nam nơi hải ngoại.
6.Giai đoạn phục hoạt – Cơ cấu tổ chức và định hướng mới
Nhà Báo Duy Văn Hà Đình Huy nhận bằng khen từ Chủ Tịch Thi Văn Đàn Lạc Việt Thi sĩ Đông Anh
Thời kỳ phục hoạt của Thi Văn Đàn Lạc Việt được hình thành trên nền tảng phối hợp và chỉ đạo của thi sĩ Đông Anh và nhà báo Duy Văn Hà Đình Huy, với sự cố vấn chuyên môn của thi sĩ Song Linh, cùng vai trò điều phối của Tổng Thư ký Ngọc An và Thủ quỹ, thi sĩ Tâm Thơ.
Sự kết hợp này đã tạo nên một cơ cấu tổ chức vững vàng, giúp Thi Văn Đàn Lạc Việt chuyển mình sang giai đoạn sáng tác năng động, có định hướng và mang tính phổ biến rộng rãi.
Trong giai đoạn này, nhiều tác phẩm do Thi Văn Đàn Lạc Việt chủ trương đã được biên tập, in ấn và xuất bản phổ thông, góp phần đưa sáng tác của các văn thi sĩ đến gần hơn với công chúng, đồng thời khẳng định vai trò của Thi Văn Đàn như một diễn đàn văn học – văn hóa có sức lan tỏa trong đời sống cộng đồng hải ngoại. Và giải Văn Thơ Lạc Việt được hình thành trong giai đoạn này.
6.Giai đoạn định hướng pha trộn và phát triển
Cố Thi Sĩ Đông Anh và Phu Nhân cùng Ký Giả Vân Hằng
Sau khi thi sĩ Đông Anh lui về phía sau vì lý do sức khỏe, đường hướng sinh hoạt của Thi Văn Đàn Lạc Việt bước vào một giai đoạn chuyển tiếp. Trong bối cảnh đời sống cộng đồng địa phương có nhiều biến động, hoạt động của Thi Văn Đàn có xu hướng mở rộng về phạm vi đề tài và cách tiếp cận, phản ánh sự đa dạng trong sáng tác văn học cũng như những tác động của môi trường xã hội đương thời.
Ở thời điểm này, Tổng Thư ký – thi sĩ Chinh Nguyên đảm nhiệm vai trò Chủ tịch, tiếp nối công việc điều hành và duy trì sinh hoạt hội đoàn trong giai đoạn chuyển mình.
Từ khi nhà báo Lê Văn Hải đảm nhận cương vị Chủ tịch, diện mạo của Thi Văn Đàn Lạc Việt ghi nhận những dấu hiệu đổi mới và khởi sắc. Các sinh hoạt được mở rộng theo hướng kết hợp Thơ – Nhạc – Văn, tạo thêm không gian giao lưu, trình diễn và sáng tác đa dạng, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa của hội viên và cộng đồng.
Nhà Báo Lê Văn Hải Chủ Tịch Thi Văn Đàn Lạc Việt và Phu Nhân My My.
Dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch – nhà báo Lê Văn Hải, Thi Văn Đàn Lạc Việt đã bước sang một giai đoạn phát triển mới, mang tính cấp tiến và hội nhập, khi ba lãnh vực Thơ – Văn – Nhạc được kết nối chặt chẽ trong cùng một định hướng: giữ gìn và phát huy văn hóa – văn học Việt Nam nơi hải ngoại.
Từ một diễn đàn thuần túy văn chương, Lạc Việt nay trở thành một không gian sáng tạo đa chiều, nơi tiếng thơ không chỉ dừng lại trên trang giấy, mà còn được chuyển hóa thành giai điệu, lời ca, và những tác phẩm văn xuôi giàu cảm xúc. Sự giao thoa giữa ba bộ môn này đã tạo nên một dòng chảy văn hóa sống động, giúp các tác giả, nhạc sĩ, thi sĩ và người viết văn có cơ hội gặp gỡ, tương tác, và cùng nhau làm mới tinh thần sáng tác, mà vẫn giữ vững cốt lõi truyền thống Việt.
Với tầm nhìn của một người làm báo và người hoạt động văn hóa lâu năm, Chủ tịch Lê Văn Hải đã khơi mở một hướng đi mang tính cộng đồng sâu sắc. Ông nhấn mạnh vai trò của Thi Văn Đàn không chỉ là nơi lưu giữ ký ức, hoài niệm, mà còn là nhịp cầu nối thế hệ – từ những người đã trải qua biến động lịch sử, đến lớp trẻ sinh ra và lớn lên trên đất khách, để cùng nhau nhận diện, trân trọng và tiếp nối bản sắc Việt.
Trong giai đoạn mới này, các sinh hoạt văn nghệ của Lạc Việt không còn giới hạn trong những buổi đọc thơ hay ra mắt tập san, mà được mở rộng thành các chương trình giao lưu, trình diễn, phổ nhạc thơ, ra mắt tác phẩm văn – nhạc, và những diễn đàn trao đổi về vai trò của văn học nghệ thuật trong đời sống cộng đồng hải ngoại. Chính sự kết hợp hài hòa giữa tư duy báo chí – tinh thần văn chương – cảm xúc âm nhạc đã làm nên diện mạo mới cho Thi Văn Đàn Lạc Việt: năng động hơn, gần gũi hơn, và lan tỏa rộng hơn.
Có thể nói, dưới thời Chủ tịch Lê Văn Hải, Thi Văn Đàn Lạc Việt đã khẳng định mình không chỉ là một hội đoàn văn học, mà là một không gian văn hóa cộng đồng, nơi gìn giữ tiếng Việt, hun đúc tâm hồn Việt, và nuôi dưỡng tình tự quê hương giữa lòng xứ người. Đây chính là bước tiến quan trọng, thể hiện khát vọng đưa văn hóa – văn học Việt tiếp tục sống, tiếp tục sáng tác, và tiếp tục truyền lại cho mai sau nơi hải ngoại.
Nhà báo Duy Văn Hà Đình Huy
(Cựu Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Thi Văn Đàn Lạc Việt)
GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH “TÁC GIẢ – TÁC PHẨM TÂN NHẠC” DO TRUNG TÂM NGHỆ THUẬT PHƯƠNG HOÀNG TỔ CHỨC
Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026
NGHỀ THỔI GIÓ
NGHỀ THỔI GIÓ
Ở xã Tân Thạnh, Huyện Tân Châu, Tây Ninh người ta truyền nhau rằng muốn được chọn vào đội dư luận viên thì trước hết phải có hai thứ:
1. Miệng
nhanh hơn não,
2. Ngón
tay khỏe hơn lương tâm.
Người nào đạt đủ hai tiêu chí này thì ắt sẽ được “để ý”.
1. Anh Tèo và buổi chiêu mộ kỳ lạ
Tèo vốn là anh sửa xe dưới gốc me, ngày ngày chửi xe không
nổ máy, chửi trời nắng, chửi trời mưa, chửi luôn cả khách nếu họ dám chê anh sửa
chậm. Ba năm gần đây, Tèo chuyển qua chửi trên Facebook — môn nghệ thuật
mới của vùng quê. Mỗi buổi chiều khách thưa, anh mở điện thoại, gặp bài nào “lạ
tai” là nhảy vào chiến:
- “Thằng
này phản động!”
- “Con
kia thiếu hiểu biết!”
- “Nói
chuyện vậy là sai định hướng!”
Không cần đọc kỹ, Tèo chỉ cần nhìn tiêu đề — thế là đủ.
Một hôm, xe ông cán bộ tuyên giáo bị thủng lốp ngay tiệm
Tèo. Vừa thay vỏ, Tèo vừa lải nhải về chuyện “giáo dục dân trí mạng xã hội”,
khiến ông cán bộ nghe mà sáng mắt:
– “Anh nói như vậy… có lập trường đó!”
– “Dạ, tui nói riết quen rồi.”
– “Có muốn góp sức cho xã không?”
– “Xã gì ạ?”
– “Xã hội chủ nghĩa!”
Thế là Tèo được mời đi “lớp tập huấn đặc biệt” của xã.
2. Lớp học nghề… thổi gió
Buổi tập huấn chỉ có ba môn:
Môn 1: Nghệ thuật bình luận 3 giây
Giảng viên nói:
“Không cần đọc bài. Quan trọng là phải bình luận nhanh. Ai
đăng gì trái tai, các anh chỉ cần nói ‘đã có cấp trên lo!’ hoặc ‘lo
chuyện cơm áo của mấy anh trước đi!’. Càng mơ hồ càng hiệu quả.”
Môn 2: Kỹ năng đổi chủ đề
Ai hỏi thắc mắc, phải lập tức chuyển hướng sang một chuyện
khác, thường là:
- “Lực
lượng thù địch!”
- “Bọn
xấu lợi dụng!”
- “Anh
nói vậy ảnh hưởng an ninh quốc gia!”
Môn 3: Cách dùng 100 tài khoản ảo
Mỗi người được phát một danh sách mật khẩu mặc định:
“Vữngtin123”, “Congdongxanh2025”, “Hoàbinhso1”, v.v.
Giảng viên dặn:
“Nhớ đổi avatar cho đa dạng: người già, phụ nữ, người yêu
nước, và đôi khi… mèo.”
Kết thúc khóa học, học viên được dặn:
“Đừng cãi bằng lý. Cãi bằng sự kiên trì.”
Tèo nghe mà lòng rộn ràng. Cuối khóa, anh được nhận thẻ “Cộng
tác viên định hướng dư luận – cấp xã”. Thẻ in hơi mờ nhưng nhìn vẫn oai.
3. Ngày đầu đi làm
Hôm đầu tiên, Tèo nhận nhiệm vụ: “vào nhóm Facebook Xóm
Mía để giải tỏa dư luận về đường làng xuống cấp”.
Dân trong nhóm phàn nàn:
- “Đường
ổ gà khắp nơi!”
- “Mưa
là ngập tới đầu gối!”
Tèo lập tức vào bình luận:
- “Ổ
gà là thử thách ý chí dân ta!”
- “Nước
ngập giúp rửa bụi bẩn, có gì đâu!”
- “Các
anh chị bị kích động rồi!”
- “Trách
nhiệm xây dựng đất nước là của toàn dân, không chỉ chính quyền đâu nha!”
Dân hỏi:
“Ủa vậy tụi tui đóng thuế làm chi?”
Tèo đáp ngay:
“Thuế là để duy trì sự ổn định!”
Nhóm im 5 phút… rồi nổ tung bằng 100 bình luận chửi Tèo.
Nhưng anh vẫn kiên trì — đúng như bài học số 3.
4. Được thăng chức
Nhờ chăm chỉ “đấu tranh”, Tèo nhanh chóng được phân lên
nhóm cấp huyện.
Kỹ năng của anh ngày càng siêu:
- Biết
nói vòng vo 10 câu mà không trả lời câu hỏi nào.
- Biết
xả 20 icon haha để làm đối phương tức chơi.
- Biết
biến một chuyện về giá xăng thành… “ổn định xã hội”.
Dần dần, Tèo trở thành “huyền thoại” trong giới dư luận
viên: comment không mệt, cãi không ngán, và… không suy nghĩ.
5. Một đêm u tối
Một tối mất điện, Tèo ngồi dưới ánh đèn dầu. Lần đầu tiên
lâu lắm, không có Wi-Fi, không có bài cần “định hướng”, không có ai để cãi.
Anh nhìn lại cuộc đời:
- Đường
làng vẫn ổ gà,
- Giá
xăng vẫn cao,
- Ngập
vẫn ngập,
- Người
dân vẫn than,
- Còn
anh — mỗi ngày đi dập dư luận về… chính những điều mình cũng than.
Anh chợt hỏi mình:
“Không lẽ ta chỉ là người đi thổi gió… để che đám mây đen?”
Nhưng sáng hôm sau, Wi-Fi có lại.
Thông báo hiện lên:
“Nhiệm vụ: tham gia hướng dẫn dư luận về việc mất điện trên diện rộng.”
Tèo thở dài… rồi bấm nút:
“Thật ra mất điện giúp chúng ta biết trân quý ánh sáng.”
Và cuộc đời anh… tiếp tục như cũ ./.
******
1.Người đàn ông đứng giữa ngã ba gió
Ở cuối con đường đất đỏ dẫn ra bến sông cũ, có một cái quán lợp tôn méo mó, người trong làng gọi là Quán Gió. Không phải vì gió thổi mạnh, mà vì nơi đó là chỗ người ta đến để nghe gió… được thổi ra bằng miệng người.
Chủ quán tên là Bảy Lộng.
Không ai biết tên thật của ông. Có người nói ông từ miền biển
trôi dạt lên, có người bảo ông từng làm cán bộ, cũng có kẻ thề rằng ông từng là
thầy giáo. Nhưng Bảy Lộng không xác nhận điều gì. Ông chỉ cười, cái cười mỏng
như làn khói thuốc, rồi rót trà.
Bảy Lộng có một nghề rất lạ: nghề thổi gió.
Không phải gió trời, mà là gió lòng người.
Mỗi sáng, ông bày cái bàn gỗ trước quán, đặt lên đó bình
trà cũ, vài chiếc ghế nhựa và một tấm bảng viết bằng phấn:
“Ở đây có gió mới – ai mệt mỏi thì ghé nghe.”
Người làng ban đầu cười. Nhưng dần dần, họ đến thật.
Bởi ai cũng mệt.
2.Những người đến nghe gió
Người đầu tiên là ông Tư Chài, một lão ngư già bị cấm
ra sông vì “quy hoạch”. Mỗi ngày, ông ngồi bó gối trước hiên nhà, nhìn nước chảy
mà như nhìn đời mình trôi mất.
Bảy Lộng rót trà, thổi gió:
“Sông có thể bị chặn, nhưng nước không bao giờ chịu đứng
yên. Đời ông cũng vậy, chỉ là đang tìm lối khác để chảy.”
Ông Tư nghe xong, hôm sau chống gậy ra bờ sông, không thả
lưới, chỉ ngồi dạy mấy đứa trẻ buộc dây câu. Người ta thấy ông cười lại.
Rồi đến chị Năm Mận, bán rau ngoài chợ, bị đuổi sạp
vì “không có giấy phép mới”. Chị khóc ở quán.
Bảy Lộng nói:
“Gió không có giấy phép, nhưng vẫn thổi khắp nơi. Người sống
được là người biết đổi hướng khi gió đổi chiều.”
Ba ngày sau, chị đẩy xe rau đi bán dạo trong các hẻm. Lời
lãi ít, nhưng không còn ai đuổi.
Tin về quán lan nhanh. Người thất nghiệp, người mất nhà,
người con cái bỏ đi, người bị ép im lặng. Họ đến không phải để uống trà, mà để nghe
gió.
3.Gió và sự thật
Không phải ai cũng tin Bảy Lộng.
Anh Phước, cán bộ xã, ghé quán một
buổi trưa nắng gắt. Anh nhìn tấm bảng, nhíu mày:
“Gió của ông là gió gì? Nói cho hay rồi người ta tin, lỡ họ
làm bậy thì sao?”
Bảy Lộng không giận. Ông rót trà, đưa ly cho Phước:
“Cậu nghĩ tôi bán gió. Nhưng thật ra tôi chỉ giúp họ nghe lại
tiếng của chính mình.”
Phước cười khẩy:
“Nghe thì nghe, nhưng sống thì phải theo quy định.”
Bảy Lộng đáp nhẹ:
“Quy định giữ cho làng đứng yên. Gió giữ cho con người còn
thở.”
Từ hôm đó, quán bị để ý.
Có người bảo Bảy Lộng thổi gió phản động, gieo suy
nghĩ “lệch hướng”. Người khác thì nói ông chỉ là kẻ nói chuyện đời cho vui.
Nhưng dân làng vẫn đến.
4.Cô gái không dám nói
Một chiều mưa, Lan xuất hiện.
Lan là con ông Ba Thềm – người gác bến sông. Cô ít nói, mắt
lúc nào cũng nhìn xuống đất. Người ta bảo Lan “bị gió tắt trong lòng” từ ngày mẹ
mất, rồi bị làng xóm dị nghị vì không chịu lấy chồng theo sắp đặt.
Lan ngồi trước Bảy Lộng rất lâu mà không nói gì.
Ông chờ.
Cuối cùng, cô thì thầm:
“Con sợ nói ra thì mọi thứ sụp đổ.”
Bảy Lộng nhìn mưa rơi ngoài hiên:
“Con biết không, nhà sập vì mục gỗ, không phải vì gió. Gió
chỉ làm lộ ra chỗ yếu.”
Lan bật khóc. Lần đầu tiên, cô kể về giấc mơ rời làng, đi
tìm nơi có thể viết, có thể nói, có thể sống như chính mình.
Bảy Lộng không khuyên ở, cũng không xúi đi. Ông chỉ nói:
“Gió không giữ ai lại. Gió chỉ chỉ đường.”
5.Ngày gió bị bắt
Một buổi sáng, quán không mở.
Tấm bảng bị tháo. Bàn ghế biến mất. Người ta thì thầm rằng
Bảy Lộng bị mời lên xã “làm việc”.
Ông không về nữa.
Quán Gió trở thành một cái hiên trống, gió trời thổi qua,
mang theo bụi và lá khô.
Dân làng lại im lặng như cũ.
Nhưng có điều gì đó đã đổi.
Ông Tư vẫn dạy trẻ câu cá. Chị Năm vẫn đẩy xe rau đi khắp
xóm. Lan gói ghém đồ, rời làng trong một buổi sáng sương mù.
Không ai tiễn. Nhưng ai cũng nhìn theo.
6.Gió ở nơi khác
Nhiều tháng sau, một bức thư được gửi về cho ông Ba Thềm.
Nét chữ của Lan:
“Con đang ở một thành phố lạ. Ở đây, người ta nói rất nhiều.
Có người nói thật, có người thổi gió. Nhưng con đang học cách phân biệt. Con viết
mỗi ngày. Con kể về làng mình, về Quán Gió, về một người đàn ông không bán gì cả,
chỉ trả lại cho người khác tiếng nói của họ…”
Bức thư được chuyền tay trong làng.
Không ai nói to. Nhưng trong ánh mắt họ, có thứ gì đó lay động,
như khi cơn gió đầu mùa chạm vào mặt nước.
7.Nghề không bao giờ mất
Nhiều năm sau, ở một góc chợ mới, người ta thấy một cô gái
trẻ bày một cái bàn, một bình trà và tấm bảng nhỏ:
“Ở đây có gió – ai mệt thì ngồi.”
Cô không xưng tên. Chỉ cười khi người ta hỏi.
Gió không có chủ.
Gió chỉ có người nghe.
Và nghề thổi gió – dù bị đuổi khỏi một làng, vẫn sẽ
mọc lên ở làng khác, trong một con người khác, vào một ngày khác.
Gió không thay được trời.
Nhưng gió có thể đánh thức những cánh buồm đang ngủ.
Duy Văn
(Editor-in-Chief of
Modern Life Magazine)
Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026
NHÀ BÁO “LÁO CÁ” TRONG DÒNG BÁO CHÍ HẢI NGOẠI – MỘT HIỆN TƯỢNG ĐÁNG SUY NGẪM
Trong sinh hoạt báo chí của cộng đồng người Việt hải ngoại,
bên cạnh những nhà báo chân chính, tận tụy với sự thật và trách nhiệm xã hội,
đáng tiếc vẫn tồn tại một hiện tượng gây nhiều hệ lụy: đó là những người mang
danh “nhà báo” nhưng hành xử theo kiểu láo cá, cơ hội và vụ lợi.
“Láo cá” ở đây không chỉ là nói sai sự thật, mà còn là sự
tráo trở trong ngòi bút, uốn cong sự thật theo cảm xúc cá nhân, phe nhóm hoặc
quyền lợi riêng. Những người này thường khoác lên mình chiếc áo “tự do ngôn luận”
nhưng lại sử dụng nó như một công cụ để công kích, bôi nhọ, gây chia rẽ, thậm
chí tống tiền tinh thần trong cộng đồng.
1. Khi ngòi bút không còn phục vụ sự thật
Nhà báo chân chính lấy sự thật làm kim chỉ nam. Ngược lại,
nhà báo láo cá thường:
- Cắt
xén thông tin, giật tít câu view, thổi phồng hoặc bóp méo sự kiện
- Đưa
tin theo kiểu “nghe nói”, “nguồn riêng”, “tin hành lang” nhưng không kiểm
chứng
- Trộn lẫn
tin tức với cảm xúc thù hằn, định kiến cá nhân
Ngòi bút như vậy không còn là công cụ khai sáng, mà trở
thành vũ khí gây nhiễu loạn dư luận.
2. Lợi dụng danh nghĩa cộng đồng và chính nghĩa
Một đặc điểm nguy hiểm của loại nhà báo này là thường núp
bóng những khẩu hiệu rất đẹp: “vì cộng đồng”, “chống tiêu cực”, “bảo vệ chính
nghĩa”, “đấu tranh cho tự do”. Nhưng thực chất, đằng sau là:
- Thanh
toán ân oán cá nhân
- Bênh vực
phe nhóm, phe ta thì che, phe khác thì đánh
- Dùng
bài viết để gây áp lực, tạo scandal nhằm trục lợi
Chính sự lạm dụng chính nghĩa ấy làm cho những giá trị cao đẹp
trong cộng đồng bị hoen ố.
3. Gây chia rẽ và làm suy yếu sinh hoạt cộng đồng
Báo chí hải ngoại vốn có vai trò kết nối, gìn giữ tiếng nói
và văn hóa của người Việt xa xứ. Thế nhưng, khi những cây bút láo cá chiếm diễn
đàn:
- Hội
đoàn bị chia rẽ
- Cá
nhân thiện chí bị tổn thương danh dự
- Niềm
tin của độc giả vào báo chí cộng đồng bị bào mòn
Hệ quả lâu dài là cộng đồng mất phương hướng, sinh hoạt
chung suy yếu, và tiếng nói chung bị phân mảnh.
4. Trách nhiệm không chỉ của người viết
Sự tồn tại của nhà báo láo cá không chỉ là lỗi của cá nhân họ,
mà còn do:
- Tòa soạn
dễ dãi, thiếu chuẩn mực biên tập
- Độc giả
tiếp tay bằng cách chia sẻ tin giật gân, chưa kiểm chứng
- Cộng đồng
im lặng trước sai trái, ngại va chạm
Báo chí chỉ lành mạnh khi người viết có đạo đức, người đăng
có trách nhiệm và người đọc có tỉnh táo.
5. Một lời kêu gọi tỉnh thức
Phê phán nhà báo láo cá không phải để triệt tiêu tự do ngôn
luận, mà để bảo vệ giá trị thật của tự do báo chí. Tự do không đồng
nghĩa với vô trách nhiệm; ngòi bút không thể đứng trên lương tâm và sự thật.
Cộng đồng người Việt hải ngoại cần:
- Trân
trọng và ủng hộ những cây bút ngay thẳng
- Thẳng
thắn phê bình những hành vi sai trái
- Nuôi
dưỡng một môi trường truyền thông lành mạnh, nhân bản và có trách nhiệm
Chỉ khi đó, báo chí hải ngoại mới thực sự là tiếng nói xây dựng,
chứ không phải là công cụ của sự láo cá và chia rẽ.
**NHÀ BÁO LÁO CÁ TRONG BÁO CHÍ HẢI NGOẠI
MỘT VẾT NHƠ CỦA NGÒI BÚT VÔ LƯƠNG**
Báo chí sinh ra để phục vụ sự thật, bảo vệ lẽ phải và nâng đỡ
đời sống tinh thần của xã hội. Thế nhưng, trong dòng báo chí hải ngoại của người
Việt, đáng buồn thay, vẫn tồn tại một hạng người khoác áo “nhà báo” nhưng hành
xử chẳng khác nào con buôn thông tin, dùng ngòi bút như một thứ dao mổ để phục
vụ tư lợi cá nhân. Đó là những nhà báo láo cá – một hiện tượng đáng bị
lên án công khai và thẳng thừng.
1. Ngòi bút bị bán rẻ cho sự gian trá
Nhà báo láo cá không viết để nói thật, mà viết để đánh
thuê, tâng bốc, bôi nhọ và gây nhiễu. Sự thật trong tay họ bị:
- Bẻ
cong theo cảm xúc và thù hằn
- Cắt
xén, chắp vá, thêu dệt thành “tin nóng”
- Phù
phép bằng những cái tựa giật gân, đầy độc địa
Họ không cần chứng cứ, không cần kiểm chứng, chỉ cần một lời
đồn là đủ dựng thành bài viết. Ngòi bút của họ không khai sáng, mà đầu độc
dư luận.
2. Tự do ngôn luận bị biến thành lá chắn cho vô liêm sỉ
Những kẻ này rất giỏi núp bóng hai chữ “tự do”. Bất cứ ai phản
biện hay yêu cầu trách nhiệm đều bị chụp mũ là “bịt miệng”, “đàn áp ngôn luận”.
Nhưng sự thật là:
- Họ đòi
tự do cho mình, nhưng chối bỏ trách nhiệm
- Họ lớn
tiếng nhân danh cộng đồng, nhưng coi cộng đồng là con tin
- Họ kêu
gào chính nghĩa, nhưng hành xử đầy mưu mô và ti tiện
Tự do ngôn luận không phải là giấy phép để vu khống, bịa đặt
hay khủng bố tinh thần người khác.
3. Ngòi bút như một công cụ tống tiền và thanh toán
Nguy hiểm hơn cả, nhà báo láo cá không chỉ viết bậy, mà còn dùng
bài viết như đòn bẩy áp lực:
- Ai
không thuận ý thì bị bêu riếu
- Ai
không “biết điều” thì bị lôi chuyện đời tư ra xé nát
- Ai chống
lại thì bị dán nhãn phản bội, tay sai, phá hoại
Báo chí kiểu đó không khác gì một hình thức bảo kê tinh
thần, làm băng hoại đạo đức truyền thông.
4. Phá hoại cộng đồng từ bên trong
Cộng đồng người Việt hải ngoại vốn đã chịu nhiều vết thương
lịch sử. Thay vì hàn gắn, nhà báo láo cá lại:
- Đổ
thêm dầu vào lửa
- Kích động
hận thù, nghi kỵ
- Gây
chia rẽ hội đoàn, gia đình, bạn bè
Họ không xây dựng được gì, chỉ để lại đổ nát niềm tin và sự
mệt mỏi trong lòng độc giả.
5. Sự im lặng tiếp tay cho cái xấu
Đáng buồn hơn, loại nhà báo này tồn tại được là vì:
- Có
tòa soạn nhắm mắt cho qua
- Có độc
giả thích tin độc, tin bẩn
- Có những
người biết sai nhưng chọn im lặng để “yên thân”
Im lặng trước cái xấu cũng là một hình thức đồng lõa.
6. Đã đến lúc phải gọi đúng tên sự thật
Không thể tiếp tục nhân nhượng. Không thể vì nể nang mà để
báo chí cộng đồng bị kéo xuống bùn. Nhà báo láo cá cần bị:
- Vạch
mặt về hành vi, không phải bằng chửi bới, mà bằng sự thật
- Tẩy
chay bằng thái độ không đọc, không chia sẻ
- Phê
phán công khai trong khuôn khổ đạo lý và pháp luật
Ngòi bút không có lương tâm thì sớm muộn cũng tự chôn mình
trong sự khinh bỉ của cộng đồng.
KẾT LUẬN
Báo chí hải ngoại không thể là nơi dung dưỡng sự láo cá,
gian trá và vô đạo. Nếu không dám nói thẳng, không dám làm sạch từ bên trong,
thì chính chúng ta đang phản bội thế hệ đi trước và đầu độc thế hệ mai sau.

.jpg)

.jpg)